3698. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Bài cuối cùng cho một đoạn đường 12 năm,

 



(Chiều cuối năm tâm sự cùng Nguyễn Minh Nữu)
 
Cũng đành giã biệt mà thôi
mười hai năm ấy ngậm ngùi chia tay
đời hữu hạn, mộng thì dài
hôm nay còn đó, ngày mai không còn. (1)
Chiều cuối năm, chiều thật buồn
tôi vừa dừng lại trên đường tôi đi
hành trang tôi chẳng còn chi
nhẹ tênh tôi chẳng có gì bâng khuâng.
Cám ơn người bạn tri âm (2)
cám ơn bằng hữu xa gần thiện duyên.
Bây giờ không nhớ không quên
không yêu không ghét không phiền lụy ai
đời hữu hạn, mộng thì dài 
hôm nay còn đó ngày mai không còn.
Tôi về đuổi bóng hoàng hôn. (3)
 
PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, 31.12.2024

(1) Ngày mai, 1.1.2025, Trang VHNT Phạm Cao Hoàng sẽ ngừng hoạt động sau 12 năm có mặt. Trong 12 năm, Trang VHNT Phạm Cao Hoàng (Tiền thân là Blog Phạm Cao Hoàng) đã giới thiệu và lưu trữ 6650 tác phẩm thơ, truyện, tùy bút, tản văn, tạp bút, biên khảo, dịch thuật, hội họa, nhiếp ảnh, âm nhạc… với gần hai triệu lượt người xem.

(2) Nhà văn Nguyễn Minh Nữu.

(3) Tựa đề một cuốn sách của Nhà văn/Họa sĩ Trương Vũ.

Thơ PHẠM CAO HOÀNG "Nhớ Cúc Hoa" và những bài thơ khác.

Bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe:

KHI XEM TRANH VAN GOGH Thơ: Phạm Cao Hoàng = Người đọc: Ngọc Quy


Mùa gặt ở La Crau, với núi Montmajour phía xa,
Van Gogh, oil on canvas, 73.4 cm cm x 91.8 cm, Pháp (1888).

Bấm vào đường dẩn dưới đây
để nghe Ngọc Quy đọc bài thơ
KHI XEM TRANH VAN GOGH

3697. Thơ NGUYỄN THỊ THANH BÌNH Đêm trừ tịch ở quê người.

Dulles Airport (Virginia) - Source: Pinterest

(Như một lời cám ơn cuộc chơi chữ nghĩa 12 năm của trang VHNT Phạm Cao Hoàng)

 

Cuối năm ở một nơi không còn thói quen

Xé nhanh tờ lịch

Như xé miếng thời gian

Đếm ngày đếm tháng cây đời đã cạn

Cơn gió từ bi bác ái nào xin thổi tới năm mới

Lại chờ mong phép lạ 2025

Hồi sinh tôi

Hồi sinh đất nước

Hồi sinh nhân loại

Và một ước mơ nhỏ nhoi khác

Là năm mới chúng ta không phải làm thơ điếu cho nhau

Và nhất là khi chúng ta vẫn còn gặp nhau đâu đó

Trên những sân chơi văn chương

Như những đợt sóng vỗ

Và mặc tình vỗ mãi…

Có phải không nhà thơ chủ bút Phạm Cao Hoàng?

 

Nguyễn Thị Thanh Bình

3696. TRƯƠNG VŨ Sài Gòn, gặp gỡ chiều cuối năm.



Khoảng 5 giờ chiều 31 tháng 12, 2024, chiều cuối năm, ở Sài Gòn, vài bạn bè đã tụ họp nhau tại căn hộ của Trương Vũ. Có vợ chồng Nguyễn Sông Ba, vợ chồng Nguyễn An Bình, Hoàng Kim Oanh, Công Nguyễn, và vợ chồng Trương Vũ. Sau những câu thăm hỏi, Hoàng Kim Oanh mở laptop nối kết bạn bè từ Sài Gòn đến Virginia, Michigan, và Hà Nội.  Đây là những bạn bè mà trong tình thân đậm đà với nhau đều chứa dựng nhiều kỷ niệm có được từ trang mạng Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng và cá nhân người chủ trương trang mạng này. Ngày cuối năm, đặc biệt, cuối năm 2024 này, có nhiều điều để chia sẻ với nhau lắm.

Một năm cũ sắp qua đi. Năm cũ nào cũng chứa chất bao tốt xấu, vui buồn lẫn lộn. Nhưng, với những con người này, năm 2024 mang đến nhiều cảm nhận về mất mát, về thay đổi. Khó kể hết. Vài người bạn văn ra đi, vài người bạn văn dời đi, vài người bạn văn ngưng cầm bút, vài người bạn văn chấm dứt những công trình đã dồn bao đam mê, dốc bao công sức, v.v.

Với tôi, cái “shock” khá lớn, khi tôi đọc bài thơ “Bài cuối cùng cho một đoạn dường 12 năm”. Thật ra, tôi đã linh cảm điều này lâu rồi vì tôi biết về sức khỏe của Hoàng. Nhưng, khi đọc bài thơ, tôi vẫn ngỡ ngàng và buồn vô cùng. Tôi chia sẻ cảm nhận của Duyên khi viết Tâm Sự Cuối Năm Từ Michigan. Tôi day dứt hơn, vì từ khi dời Virginia về Sài Gòn, trang VHNT Phạm Cao Hoàng là cái cầu nối của tôi với những sinh hoạt tôi có được trong thời gian còn ở đó, với những bạn bè trong văn học nghệ thuật tôi xem như anh em.  Tôi vẫn hụt hẩng khi đọc bài thơ này của Hoàng và cảm nhận được nổi buồn của Hoàng khi làm quyết định này. Chắc chắn là không dễ. Chắc chắn là phải đau lắm. Tôi cảm nhận được nổi đau này. Nhưng, bên cạnh đó, tôi mừng. Hoàng làm quyết định đúng. Cho Hoàng và gia đình. Và, cho những bạn bè rất thương Hoàng.

Ngồi đây, qua câu chuyện với bạn bè đang ngồi ở Sài Gòn cạnh tôi, hay trên mạng, như Tùng Duyên ở Michigan, như Nguyễn Minh Nữu ớ Virginia, tôi hồi tưởng lại thời gian dài 12 năm của trang VHNTPCH. Nó là văn chương có chất lượng, dĩ nhiên. Nó là nghệ thuật có chất lượng, dĩ nhiên. Nhưng, quan trọng hơn hết, nó là một mái nhà. Chúng ta vào đó khi vui. Chúng ta vào đó khi buồn. Dù vui, dù buốn, vào đó chúng ta thấy ấm áp hơn, thấy đời mình tươi đẹp hơn.

Bây giờ, nó sắp sửa không còn nữa. Nhưng, có những cái khi đi vào quá khứ nó đi hẳn vào quá khứ, biền biệt. Nhưng, tôi biết, những gì trang VHNT Phạm Cao Hoàng mang lại cho chúng ta vẫn sẽ còn đó. Những gì PCH đem lại cho chúng ta, như là một người bạn, vẫn còn đó. Nó không hoàn toàn là quá khứ, nó luôn có trong tâm tưởng, trong tình cảm của mình, khi mình đi vào tương lai. Nói cách khác, nó vẫn luôn lẩn quẩn bên mình.

Chúng ta sắp sửa bước vào tương lai khi năm mới 2025 đến, Khi nhạc của các đài phát thanh và truyền hình trên thể giới trổi lên bản Auld Lang Syne, từ biệt năm cũ. Đây lại là lúc tôi đón nhận món quà tuyệt với của mình, tuyển tập Trương Vũ Bằng Hữu & Văn Chương, do tạp chí Ngôn Ngữ thực hiện. Món quà này Phạm Cao Hoàng đã bỏ bao công sức cho nó, chăm chút từng dòng chữ, từng tấm ảnh. Các bạn tôi,  đúng ra là các em tôi, như Nguyệt Mai, Duyên, Nguyễn Minh Nữu, Nguyễn Sông Ba đã hỗ trợ hết lòng, cùng với PCH. Như ban chủ trương của Ngôn Ngữ. Như nhà xuất bản Nhân Ảnh. Như Lê Hân, như Công Nguyễn, v.v. Và như bao bạn văn đã viết về tôi, cho tôi. Xin cảm ơn tất cả.

Tôi mang quyển sách này đi vào tương lai.

HAPPY NEW YEAR.

TRƯƠNG VŨ
Sài Gòn, 11:00 PM ET 31/12/2024



3695. Thơ ĐINH TRƯỜNG CHINH Bài cuối năm.

Golden Gate Bridge in San Francisco - Source: Wallpapersmug

-

và như vậy là cuối năm rồi

tôi trở lại con dốc

mù sương

nơi người ca sĩ già 

đã mất hết trí nhớ

bỏ quên trái tim mình

i left my heart in san francisco

 

chớp mắt thôi

đã cuối tháng chạp

vòng hoa giáng sinh

treo buồn trên thép gai

chuyến bay cuối

chở tôi về đây

đứng giữa ngày lạnh buốt

không có ai 

gọi-tên-cho-đỡ-nhớ.

 

nhìn xuống là sương

là vách đá

là nhân loại đang cuốn theo nhau 

tháng chạp chở tôi trên đôi cánh gió

bay qua sự rỗng không

của thế giới này

bay qua bao tiếng động 

để lặng im.

 

như tôi, để quên tôi

bằng cách gieo mình xuống

một thành phố lạ

hít thật sâu vào lồng ngực

chút mùi của tự do

trong cơn mưa phùn lạnh.

 

người ca sĩ già năm xưa

mất hết trí nhớ

vẫn đi tìm tim mình 

thất lạc

ở san francisco

tôi leo lên dốc sương dài

ném trí nhớ mình 

vào khoảng trống.

 

và như vậy 

là cuối năm rồi.

 

- đtc

ps.

Tony Bennett về sau vẫn hát hay cho đến gần cuối đời với căn bệnh mất trí nhớ / alzheimer.

3694. Mấy dòng tâm sự của nhà thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên).



3693. DUYÊN Tâm sự cuối năm từ Michigan.

Chân dung Duyên - Tranh Trương Vũ.


10 năm trước, duyên được anh Đinh Cường dẫn vào trang Phạm Cao Hoàng khi duyên gửi cho anh một bài thơ tưởng nhớ nhà văn, thầy Nguyễn Xuân Hoàng, người bạn anh quý mến. anh liền gửi đăng trên trang PCH. hết hồn, duyên gửi email  làm quen và cám ơn anh PCH,  cũng cho anh biết mình làm bài thơ này vì xúc động mạnh về tình bạn của ĐC dành cho người bạn mà duyên cũng có được quen biết, nghe rất nhiều qua anh ĐC, và nói với anh: “duyên không là nhà thơ cũng không là thi sĩ.” anh PCH @ trả lời: “đây là sân chơi của bạn bè những người yêu văn chương, thi ca - không làm thơ mà sống như thơ thì vào chơi được cả”.  rồi anh khuyến khích duyên gửi bài  cho trang PCH, anh hứa sẽ đăng - giữ lời hứa. từ đó bỗng nhiên vườn thơ PCH có thêm một “thi sĩ” trái mùa, không thuộc trường phái nào, ngay cả thơ tự do (có thể xếp loại ảnh hưởng rất nhiều từ thơ nhật ký của Đinh Cường) những xúc động  chân thật thường được ghi nhận vội qua những dòng thơ khập khểnh được cổ võ bởi ĐC và chuyển đạt qua trang PCH với ‘bút hiệu’ được giữ lại từ bài thơ đầu tiên duyên gửi cho anh ĐC, ký tên duyên. 

 

trong khu vườn này duyên vui chơi đến nay đã 10 năm, có khóc-cười qua năm tháng đó. những giọt lệ vui buồn luôn mang theo bao ý nghĩa đẹp mà giờ này không sao nhớ hết.


lần cuối thăm anh ĐC tháng 6, 2015, lần đầu tiên được gặp gỡ anh PCH, Nguyễn Minh Nữu, Phùng Nguyễn, Lãm Thuý, Nguyễn Quang Chơn. anh Lữ Quỳnh duyên được gặp một tháng trước đó ở San Jose (do anh ĐC phối hợp). 

 

tháng 1 năm 2016 khi đang tham dự sinh nhật con gái lớn ở SF thì có tin anh ĐC mất.  vội bay về Virginia để dự đám tang anh. sau đó bạn bè được quy tụ về nhà anh Trương Vũ, gặp gỡ ngậm ngùi  trước khi chia tay - chia tay nhau và vĩnh biệt ĐC.

 

sau khi anh ĐC mất, ảnh hưởng về tình bạn của anh lan tỏa khắp  mọi người, sự liên kết như chặt chẽ hơn, gần gũi hơn. những người em và bạn anh nhìn rõ cái mong manh dễ vỡ  trong cuộc đời nên họ xích lại gần nhau hơn. anh Trương Vũ như một người anh cả, rộng lượng mở vòng tay thương yêu bằng những  buổi họp bạn, và những bức chân dung anh miệt mài vẽ trong tình thương và tài sức hiếm quý. những bài viết  với sự hiểu biết, kiến thức có giá trị văn học  cao và ước vọng trong xanh cho đời sống được anh chậm rải sáng tác: here and there… anh viết như để ghi chép, anh không xem đó là tác phẩm. những người yêu quý anh đốc thúc, gom góp lại những “ghi chép” của anh thành một quyển sách đẹp, những chia sẻ sâu sắc, suy nghĩ  thận trọng, kinh nghiệm sống của anh trong một nửa thế kỷ chao đảo của một Việt Nam bất toàn được  gìn giữ lại cho thế hệ này và mong là mãi mãi, mai sau… 

 

đó là khi anh Đuổi Bóng Hoàng Hôn…

 

nhờ Hoàng Kim Oanh, một buổi họp mặt bỏ túi từ Sài Gòn và Mỹ được thân mật tổ chức tại nhà  để mừng anh Trương Vũ, một tác phẩm mới: 

Trương Vũ, Bằng Hữu và Văn Chương 

được phát hành vào ngày cuối năm, 12.31.2024.

 

tác phẩm này là một tuyển tập tranh và bài viết của Trương Vũ cùng bạn bè anh. hầu hết do anh Phạm Cao Hoàng lo liệu, một quá trình dài  đúc kết, chăm sóc cho đến khi phát hành, không một chi tiết nào bị bỏ sót, ai cũng hân hoan, vui cùng anh Trương Vũ.

 

khi chia sẻ về cảm nhận của bạn bè cho anh, anh cho biết đó là những chia sẻ chân thật, qua những trải nghiệm khi gần gũi hay hiểu biết về anh. kinh nghiệm của mỗi cá nhân như chuyện tả con voi của người mù, ý mỗi người khác nhau nhưng đều rất thật về những gì họ cảm nhận được khi trải ra những cảm nghiệm, phần mình. 

 

rất mong là những cảm nghiệm này sẽ nối kết được đầy đủ để  “Voi” Trương Vũ của chúng ta được thành hình  hoàn hảo vào một ngày cuối năm, một năm nhiều biến động dữ dội đã thúc đẩy con người  phải cố gắng vượt qua, không bao giờ nên bỏ cuộc. 

 

hy vọng luôn lấp lánh như vì sao trong lòng đêm sâu thẳm của người thi sĩ… nhưng với sự hiểu biết khoa học, lòng tin tưởng, hy vọng vươn cao, loài người tin rằng một ngày nào đó mình sẽ đến được với vì sao. chuyện nhặt ánh sao rơi sẽ thành dĩ vãng…

 

phải vậy không, thưa khoa học gia Trương Hồng Sơn?

 

duyên 

Michigan, 31.12.2024

3692. Thơ NGUYỄN THỊ THANH BÌNH Năm mươi năm nợ nần chi nữa.

Nguyễn Thị Thanh Bình - Tranh Nguyễn Trọng Khôi

 

Năm mươi năm trăng ấy đã già

Trăng non cũng khuyết mấy mùa trăng

Nhớ chi hoài mảnh trăng đầu núi

Mà nghe xa vắng tận hồn trăng

 

Năm mươi năm đường về cố quận

Ai biết kẻ đổi họ thay tên

Biết chăng chuông chùa làm ai khóc

Ngày đi ngỡ mây trắng quên về

 

Năm mươi năm viễn ly về cố xứ

Hơn nửa đời lầm lạc nhớ thương nhau

Người quê nhà tàn canh thắp đuốc nhớ

Chờ nhau chi nơi cuối vịnh đầu non

 

 Năm mươi năm nước chảy mà chẳng mòn

Quanh quẫn nghe sầu mấy giọt rưng rưng

Tìm nhau hoài soi dấu xưa đã mỏi

Lục lọi đây từng giọt vắng hư hao

 

Năm mươi năm xin cuộc đổi đời

Cho niềm tin thôi đừng khánh kiệt

Nước có trôi nhưng tình đứng lại

Để ngày về yêu mãi được ai…

 

Nguyễn Thị Thanh Bình

3691. CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2025 & CHÚC MỪNG TRƯƠNG VŨ - BẰNG HỮU & VĂN CHƯƠNG,


CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2025
Sơn dầu Nguyễn Sông Ba, 60cm x 90cm, 31.12.2024



Và chúc mừng Trương Vũ - Bằng hữu và Văn chương.
Từ trái: Nguyễn An Bình   Hoàng Kim Oanh   Nguyễn Sông Ba
Trương Vũ + Chị An  Hoàng Kim Chi  Bà Nguyễn An Bình.

3690. NGUYỄN MINH NỮU Cuối năm và những ngậm ngùi.



Tôi viết những dòng này vào những ngày cuối của tháng 12 năm 2024. Nỗi ngậm ngùi có từ trước đó vài tháng, khi anh Luân Hoán, một nhà thơ nổi tiếng và sống hết lòng với chữ nghĩa, người sáng lập và điều hành trang Vuông Chiếu Luân Hoán từ  tháng 3 năm 1999, trải qua 25 năm hoạt động vừa gửi thông báo tạm ngừng nhận bài  và giới thiệu các sáng tác bốn phương và theo lời anh Luân Hoán: “Hiện tại các mạng xã hội lớn, như Facebook. YouTube, Instagram, TikTok, Pinterest… hoạt động qui mô và hữu hiệu, ai muốn vui chơi cũng tự làm chủ căn nhà của mình một cách dễ dàng, và thuận tiện trong thế giới nhiều người đọc, nên trang web Vuông Chiếu xét không còn cần tiếp tay để các bạn phổ biến bài nữa. Nên tôi quyết định ngưng phần nhận bài và giới thiệu một cách hạn hẹp nữa”.

Thiếu vắng từ đây một trang web uy tín từ lâu đời để có thể ghé thăm tìm đọc những sáng tác, tin văn từ những ngòi bút đã quen tên dù chưa bao giờ kết nối.

*

Nỗi ngậm ngùi chưa thể nói hết ra thì mới đây Trang VHNT Phạm Cao Hoàng cũng thông báo sẽ ngừng hoạt động từ ngày 1.1.2025 sau 12 năm có mặt. Với tôi, đó là một tin rất buồn và rất choáng.

Dường như, từ lâu tôi quên rằng trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng là một trang web trên mạng ảo, mà cứ tưởng như đó là một người bạn, người bạn chí thân như Phạm Cao Hoàng ngoài đời. Nơi đó, tôi thú vị được đọc như được trò chuyện với những điều mới lạ và tâm đắc.

Giống như con người thật của Phạm Cao Hoàng, trang VHNT Phạm Cao Hoàng là một trang thân thiện, khiêm cung, tế nhị và rất nghiêm túc trong văn học.

Thân thiện vì với giao diện thông minh, dễ tìm kiếm và  trình bày mỹ thuật làm người ghé vào lập tức bị cuốn hút và yêu thích.

Khiêm cung vì trên giao diện chính, ở các tiểu mục quan trọng Phạm Cao Hoàng đã đề cao các tên tuổi mà ông trân trọng như Đinh Cường, Trương Vũ, Ngô Thế Vinh, Thân Trọng Sơn, Trần Hoài Thư, còn chính Phạm Cao Hoàng thì nằm chung trong tiểu mục Các Tác Giả Khác.  Sau này, có nhiều đề nghị của anh em, ông đã khiêm tốn để tên mình sau chót với hàng chữ tắt PCH.

Tế nhị là trên trang này không có các lời bình luận, dù khen hay chê.  Không công khai người chọn lựa bài, và không phổ biến tên tuổi những tác giả gửi lai cảo. Chúng ta chỉ nhận biết được quan điểm thực hiện trang như một dòng nối của Văn Học Miền Nam và giới thiệu bài vở giá trị của các tác giả trong và ngoài nước.

Ngoài các sáng tác thơ, văn, dịch thuật, Trang web Phạm Cao Hoàng rất chú trọng giới thiệu các tác phẩm hội họa. Chúng ta có thể tìm thấy ở đây hàng ngàn bức tranh của Đinh Cường, Trương Vũ, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Sông Ba, Đinh Trường Chinh,,,

Trang web này cũng rất cẩn thận trong cách trình bày, hạn chế lỗi chính tả, thể hiện sự tôn trọng người đọc. Các bài viết, thơ, văn, nhạc, họa, dịch thuật  luôn thấm đẫm chất nhân văn. Có cực đoan lắm không khi thực sự mỗi bài đăng trên trang này luôn tạo cho tôi cái đồng cảm  dễ chịu và hấp dẫn tức thời?

Hầu như mỗi ngày, tôi đều vào trang VHNT Phạm Cao Hoàng để gặp gỡ và theo dõi các sinh hoạt của anh chị văn nghệ sĩ quen biết. Chẳng cần liên lạc cũng nắm bắt được các sính hoạt bạn bè đang viết gì, vẽ gì, kế hoạch sắp tới hay đơn giản hơn là sức khỏe để cảm thấy mình ấm áp biết bao trong vòng tay bạn bè.

Khi Phạm Cao Hoàng thông báo chưa chính thức về việc  ngừng trang web, tôi cảm thấy như mất mát. Mất mát nhiều lắm. Một thói quen? Một niềm vui mỗi ngày? Hay rộng rãi hơn, một khoảng trống khó trám lại cho sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại?

Tôi đến gặp, trao đổi trực tiếp với Phạm Cao Hoàng. Đề nghị với anh một vài giải pháp để duy trì lại sân chơi văn học này như tìm người quản lý trang, hay lập ban biên tập tiếp tay, hay… nhưng cuối cùng thì anh nói với tôi: “cũng đành giã biệt mà thôi/mười hai năm ấy ngậm ngùi chia tay”.

Dạo gần đây sức khỏe của Phạm Cao Hoàng sa sút nhiều. Sự suy yếu là chuyện tất nhiên của tuổi tác. Buông bỏ  mọi vướng bận để có thời gian nhẹ nhàng  là một chọn lựa đúng đắn và hợp lý nhất, mà nếu là tôi, tôi cũng sẽ chọn lựa như Phạm Cao Hoàng.

Nhưng thú thật là về phần mình, tôi có cảm giác mất mát thật lớn. Là một hụt hẫng  không biết phải nói sao khi bất chợt mất đi một thói quen bấy lâu nay mà cứ ngỡ sẽ  trường tồn mãi mãi. Thiếu hẳn đi một động lực để sáng tác, thiếu một chí tình để bù khú chuyện văn chương thiếu gì nữa… mà  không mường tượng hết được.

Năm 2024 kết thúc trong tôi bằng nhiều nỗi ngậm ngùi, trong đó có nỗi ngậm ngùi về việc Trang web Vuông Chiếu Luân Hoán và Trang web Phạm Cao Hoàng không còn hoạt động. Nhưng rồi cũng phải chấp nhận sự hữu hạn của mọi thứ trên cõi đời này. Có bắt đầu thì phải có kết thúc. Có lên đường thì có lúc phải dừng chân.


NGUYỄN MINH NỮU
Virginia, 30.12.2024

3688. PHẠM CAO HOÀNG Thơ của người đến từ Sơn Hòa


Nhà thơ Trần Huiền Ân
Photo by Phạm Cao Hoàng (Tuy Hòa, 2012)


Trần Huiền Ân sinh năm 1937 tại Sơn Hòa, Phú Yên. Ông thuộc thế hệ lớn lên trong kháng chiến chống Pháp và trưởng thành sau khi đất nước bị chia cắt. Ông sớm tham gia vào dòng văn học miền Nam với những bài thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa và tuần báo Tuổi Xanh. Nhiều bài thơ của ông được soạn giả Bùi Văn Bảo sử dụng làm bài học thuộc lòng cho học sinh ở các lớp cuối cấp của bậc tiểu học trong các bộ sách giáo khoa VIỆT NGỮ TÂN THƯ (1961) và TÂN VIỆT VĂN (1964). 

Về bút pháp, ông là người cẩn thận từng câu từng chữ. Chữ nghĩa của ông đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với đời thường, kỹ thuật điêu luyện, ý tưởng sâu sắc. Sở trường của Trần Huiền Ân là thơ vần 7 chữ hoặc 8 chữ. Thơ ông gieo vần rất chuẩn mực nhưng khi đọc chúng ta thấy câu chữ tự nhiên, ý tưởng mạch lạc, không gượng ép. Trần Huiền Ân làm thơ giống như một người kể chuyện. Nhiều bài thơ của ông có dáng dấp cúa truyện rất ngắn, trong đó có cốt truyện, có thông điệp ông muốn nhắn gửi. Ông sử dụng rất nhiều hình ảnh để minh họa cho cảm xúc nên nhiều bài thơ của ông có dáng dấp của một bức tranh. 

Chủ đề chính trong thơ Trần Huiền Ân là QUÊ HƯƠNG. Có thể nói, nhắc đến Trần Huiền Ân là nhắc đến những bài thơ về quê hương -  những bài thơ làm cho người đọc yêu đất nước, xóm làng  của mình hơn. Ông là một trong những người đi tiên phong trong việc hình thành dòng thơ quê hương này. Những ai từng học tiểu học vào thập niên 60 hẳn còn nhớ bài thơ “Chuyến đi dài”. 

CHUYẾN ĐI DÀI
 
Tuổi niên thiếu vốn nhiều mơ lắm ước
Tôi đã nuôi trong trí chuyến đi dài
Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai 
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm
Để ngày tháng vơi đôi phần thăm thẳm
Bản đồ đây tôi dự ước hành trình…
 
Giữa phương Nam biển dội sóng thanh bình
Tôi sẽ lấy Côn Sơn làm khởi điểm
Sau giây phút để tâm hồn mặc niệm
Lắng không gian nghe tiếng gọi tiền nhân
Đường thênh thang chí quyết cũng xem gần…
 
Đây Phú Quốc mùi quê hương tỏa rộng
Hà Tiên với cảnh non chùa thạch động
Kiên Giang còn Nhật Tảo sáng ngàn năm
Mắt cô em Cái Sắn tựa trăng rằm
Bao la quá ruộng Cà Mau xếp gợn
Thuyền độc mộc xuôi trên dòng Cái Lớn
Xuyên kênh đào về trẩy hội Tây Đô
Lòng Hậu Giang bát ngát tận đôi bờ
Cùng hẹn với sông Tiền trôi chậm rãi
Sen Đồng Tháp phơi màu tươi thắm mãi
Núi Điện Bà che rợp bóng tôn nghiêm
Trăng Sài Thành e thẹn dưới đèn đêm
Hai ngả nước ai Đồng Nai, Gia Định?
Bờ Long Hải chiều êm rây nắng tịnh
Bưởi Biên Hòa ngọt lịm khách miền xa
Trà B’Lao sưởi ấm nếp môi già
Đà Lạt gió quyện vầng mây thác nước
Rừng Ban Mê suối đờn nai khẽ bước
Buồm lao xao Phan Thiết rộn niềm vui
Ngọn Tháp Chàm cô quạnh tiếc ngày trôi
Tàu vạn quốc về Cam Ranh chen chúc
Thùy dương rủ Nha Trang thêm hiền thục
Đá Bia còn nguyên nét triện người xưa
Bãi Tam Quan cát mịn ấp chân dừa
Guồng xe tưới sông Trà gieo bụi trắng
Ngũ Hành ngắm mặt Hàn Giang phẳng lặng
Hải Vân đài cây vút tuyệt đường chim
Nửa khuya chuông Thiên Mụ vọng êm đềm
Cả Hương Ngự la đà theo nhịp trúc
Cầu Hiền Lương…
                           sẽ nối tình Nam Bắc
Xóa nhòa đi dòng phân cách thương đau
Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Liền một dải
                  Và chuyến đi lại tiếp…
 
Men theo bóng dãy Trường Sơn trùng điệp
Sóng Thái Bình reo đón bước phiêu du
Qua Đèo Ngang nghe nhạc gió vi vu
Tới Thanh Hóa lúa vàng đùa trong nắng
Dân hoan lạc nhờ được mùa Nông Cống
Đem nén nhang vào lễ tạ Đền Sòng
Cầu Hàm Rồng chênh chếch bắc ngang sông
Trên dòng Mã nước in màu sông núi
Dìu dịu lúa non bình nguyên Nhị Thái
Tình ngọt ngào như nhãn trại Hưng Yên
Gió Đồ Sơn xua sóng bạc dịu hiền
Cửa Nam Triệu nước hai dòng mặn nhạt
Chiều Hạ Long mây vương tình man mác
Với chân trời sắc nước lẫn màu xanh
Sóng nhấp nhô vờn khe đá chông chênh
Thuyền nhẹ lướt, phải đây miền nước nhược?
Động Đầu Gỗ ánh chập chờn huyền hoặc
Hang Hanh nghe khoan nhặt nhạc âm vang
Đây Hòn Gai, đây Bái Tử, Hạ Long
Mà đâu bóng rồng thiêng sa hạ giới?
Núi Truyền Đăng thơ đề còn in mãi
Ngược sông Thương lên trẩy hội Tam Thanh
Chàng ra đi theo tiếng gọi quân hành
Để thiếp phải tháng năm trong mòn mỏi
Nàng Tô Thị đứng trông về biên ải
Ngàn năm còn chờ đợi bóng chinh phu
Chim Hà Giang buông nhịp hót “bắt cô”
Trên bến nước sông Lô còn tiếng hát
Nương bóng Hoàng Liên cây cao bóng mát
Rồi xuôi về theo sóng nước sông Hồng
Mây chịu tang Yên Bái có còn không?
Và Yên Thế còn tấm gương Đề Thám?
 
Bắc Ninh đẹp nhờ cảnh chùa Long Giáng
Sơn Tây buồn vì mây quyện Ba Vì
Đền Hùng mờ sương khói tỏa uy nghi
Non sông Việt nhờ tay ai dựng lập?
Sớm Hòa Bình, Chợ Bờ vui vẻ họp
Bến sông Đà dòng nước chảy cong cong
Tháng hai về xem trẩy hội chùa Hương
Hay trở bước lên thăm đền Thánh Gióng?
Về Hà Nội một ngày thu gió lộng
Cảnh núi Nùng sông Nhị dấu ngàn xưa
Sóng Hồ Tây gợn bởi bước Hai Bà
Hay là bởi trâu vàng xưa nhớ mẹ?
Đống Đa kia mồ chôn muôn vạn kẻ
Hồ Gươm còn thức ngủ bóng rùa thiêng?
Cầu Long Biên mấy nhịp bắc trường giang
Ô năm cửa mở đón chào lữ khách…
 
Đây Thăng Long bụi đường ta rũ sạch
Sống với lòng Đất Mẹ, với kiêu sa
Bàn tay vỗ nhịp ta ca
Ca tình sông núi chan hòa lòng trai
 
(1960)
Ghi chú: bài này viết chung với Yên Hà.(1)
 

Tuổi thơ của Trần Huiền Ân gắn liền với những nhọc nhằn của dân tộc trong bối cảnh toàn dân đứng lên đánh duổi thực dân Pháp. Thời gian này, 95% người dân không biết chữ. Được đi học ở giai đoạn này là niềm hạnh phúc của ông. Trong bài “Hẹn Xưa”, viết năm 1966, ông kể lại chuyện ông đi học trong những ngày tháng ấy. Thời gian học là ban đêm. Nơi học là mái hiên đình. Ngòi bút là tre vót nhọn và giấy vở thì rất thô sơ, được chế biến từ rơm. Khó khăn là như vậy nhưng ai cũng đều ham học với ước vọng mai sau sẽ góp phần xây dựng quê hương. 

HẸN XƯA
 
Tôi đi học giữa những ngày kháng Pháp
Áo quần thô xám nếp vải xi ta
Đêm đến lớp ngọn đèn chai gió táp
Tắt vội vàng khi tiếng máy bay qua
 
Chúng tôi ngồi quanh hiên đình chật hẹp
Bóng thầy chao trên vách chắn phên thưa
Chòm tóc ngắn bên những vồng tóc kẹp
Ngước uống từng lời mắt sáng đong đưa
 
Ngòi bút dùng gốc tre già vót nhỏ
Giấy nam trung còn dấu sợi rơm hiền
Son thầy phê vàng hoe màu thuốc đỏ
Tôi nâng niu từng nét chữ nghiêng nghiêng
 
Tan buổi về lo chăn bò, cắt cỏ
Đắp nước, thăm đồng, mót lúa, đuổi chim
Thương cha mẹ già nua còn khốn khó
Nước mắt xuôi hàng..máu ngược về tim
 
Tuổi học trò của tôi là thế đấy
Trên đất khô cằn vượt nở hoa tươi
Quen thuộc quá nên nhọc nhằn chẳng thấy
Vòng tay ôm hoài bão ấm môi cười
 
Chúng tôi căm hờn quân thù tàn ác
Đốt sách, giết thầy, phá sập trường quê
Lưỡi lê nồng tanh máu người bạo sát
Đã không chừa em nhỏ mới a b
 
Chúng tôi nguyền lớn lên cùng xây dựng
Đất nước Việt Nam độc lập hòa bình
Cho những ngôi trường oai nghi sừng sững
Tiếng hát học trò thêm sáng bình minh
 
Và bây giờ theo tháng ngày xưa tính
Bạn bè trôi lưu lạc mất trong hồn
Tôi ngỡ ngàng tra thân vào nghiệp lính
Chợt giật mình nhìn lại hẹn lớn khôn
 
Buổi hàng buổi theo đoàn quân tiến bước
Ra thao trường tắm nắng gội mồ hôi
Tôi nhìn các em – nhìn tôi thuở trước
Chạy dọc đường bưng rổ bánh mâm xôi
 
Lời em rao lên cao rồi tắt nghẽn
Tầng dư ba không lả lướt chào mời
Đôi tay gầy cặm xương vào xác én
Khấp khểnh chân trần nhịp thở chùng hơi
 
Bán đi em, nhanh nhanh về đi học
Rồi thả trâu, rồi bế bé, trông nhà
Tôi xét mình xin cúi đầu trách móc
Bao lỡ lầm thiếu sót phận anh cha
 
Nên các em còn bơ vơ đói rách
Sớm tảo tần mong kiếm bát cơm vơi
Bốn năm tuổi mũi thòng chưa lau sạch
Đã đua tranh chen chúc với dòng đời
 
Tôi tự hỏi mình xưng tên chiến đấu
Cho các em cùng nối mộng cao xa
Hay cho những người cười trên lửa máu
Thêm sang giàu nhờ xáo thịt nồi da?
 
(1966)
 

Trong bài thơ này, ông đã nhắc đến người thầy bằng những dòng chữ rất thân thương. Nhiều năm sau này, ông vẫn còn nhắc đến những người thầy ấy trong một số bài viết với lòng kính trọng và biết ơn. 

Trần Huiền Ân là một nhà giáo. Ông có nhiều bài thơ viết về học trò của ông. “Học Trò Tôi”, viết năm 1964,  là một bài thơ hay. Bài thơ ghi lại hình ảnh thật dễ thương của học trò ông ở một số ngôi trường thuộc tỉnh Phú Yên sau năm 1954. Thời chiến tranh, nhiều em không đi học được; đến khi hòa bình lập lại mới có thể đến trường. Do vậy, một số học sinh tuổi đã lớn, có học sinh bằng tuổi ông thầy. Ngoài giờ học, các em phải làm đủ thứ công việc để phụ giúp gia đình, nhất là ở vùng nông thôn. Bài thơ thể hiện sự gắn bó, yêu thương và trách nhiệm của người thầy. đối với học trò. 

HỌC TRÒ TÔI
 
Ngày mới bổ ra (2)
Tôi dạy ở một vùng quê không thấy chân trời mặt biển
Học trò tôi
Đứa lớn bằng tôi
Đứa nhỏ như con chiền chiện
Áo cánh quần đùi
Mo cơm dỡ trên vai
Lủi bước chân không
Miệng nhẩm học bài
Đi học không bao giờ trễ
Việc lớp việc trường giúp thầy nào nệ
Bẽn lẽn cười không dám nhận lời khen
Những buổi trưa ở lại đến nhà quen
Bẻ cau mướn kiếm vài trái về cho mẹ
Hoặc rảo ngoài gò đào hang bắt dế
Gài con gà con cuốc nấu canh
Những đứa học trò hiền như cụm lúa xanh
Thiệt thà tựa vị khoai bùi mía ngọt
Bị điểm xấu thì nỉ non nỉ nọt:
Thưa thầy, thà đánh chục roi
Nước mắt khoanh tròng chực chảy dòng đôi…
 
Vài niên khóa giã các em ở lại
Tôi xuống núi, trả cho đàn em dại
Những đồi cao, lũng thấp, tuổi ngây khờ
Về tỉnh thành có đèn điện ô tô
Tà áo gió buông lơi dài đại lộ
Học trò tôi
Mai thả cánh như bướm đầy khắp phố
Những chân giày chân dép nhịp nhàng reo
Chẳng đứa nào trong chiếc túi tí teo
Không có vài đồng để mua cà rem, bánh sữa
Vài đứa được mẹ cha chiều hơn nữa
Có anh đưa chị đón lúc đi, về
Vài đứa bạn bè trông thấy mà mê
Bởi đi học bằng xe nhà bóng lượn
Lại vài đứa cha là sĩ quan, ty trưởng
Là kỹ sư, là bác sĩ có công xa
Trống tan rồi đủng đỉnh xách cặp ra
Tài xế đã ôm vô lăng ngồi đợi…
 
Học trò tôi
Mỗi năm thêm lớp mới
Mỗi năm tôi đón nhận biết bao tình
Dù những em có áo đẹp quần xinh
Đi học bằng xe VN hãnh diện
Hay những em tằn tiện
Bữa cơm trưa ăn muối ớt muối mè
Các em là măng mà tôi phải là tre
Tre phải đỡ cho măng non vượt dậy
Các em là những thiên thần mà mắt tôi trông thấy
Những thiên thần trỏ nẻo bước chân tôi…
 
(1964)
 

Trần Huiền Ân la người sống chí tình với bạn bè nên tình bạn là đề tài không thể thiếu trong thơ ông. “Bàn tay bẻ núi”,  viết năm 1976, là bài thơ ông viết  khi nhớ đến một người bạn thân. Như đã nói ở trên, ông thường dùng nhiều hình ảnh để minh họa cho cảm xúc.  Hình ảnh trong bài thơ này là những hình ảnh đẹp về một tình bạn thủy chung trong mọi hoàn cảnh. 

BÀN TAY BẺ NÚI
 
Tưởng tượng… bạn không nhìn ra ta
Má cóp làm như đã quá già
Trán thấp đôi lằn nhăn hiện rõ
Rối bù mái tóc bụi đường xa
 
Tưởng tượng… ta không nhìn ra bạn
Râu hùm tua tủa mày chuôi dao
Bàn tay bẻ núi căng gân thép
Áo khoác hờ phanh ngực tự hào
 
Tưởng tượng… một giây chìm lặng lẽ
Mắt nhòa tâm trí gọi ngày xưa
Rồi A một tiếng cùng vui sướng
Quên hết ngàn năm chuyện nắng mưa
 
Không thể, cho dù trong tưởng tượng
Chìm chìm một phút lỡ quên nhau
Không thể, cho dù trong tưởng tượng
Cầm dao cắt ruột chẳng nghe đau
 
Tưởng tượng… hôm nào ta đến bạn
Chiều xanh xanh đẹp nắng gay gay
Dưới này củi rẫy đen lem luốc
Trên ấy mây trời trắng nõn bay
 
Đêm đến gọi đàn sao mọc sớm
Vẫn sừng trăng cũ bạc cong cong
Cùng ngồi đốt lửa hong tâm sự
Ếch nhái kêu inh phía mặt đầm
 
Tưởng tượng… ta cùng say quá đỗi
Dăm vò rượu vục bát sành to
Nghiêng nghiêng… mặt đất nghiêng nghiêng nhỉ
Tiếng sóng xa như lắc mũi đò
 
Ta lặng im nghe trời đất nói
Ô kìa, trời đất cũng im nghe
Con nhà ai khóc vu vơ đó?
Con cuốc thương thân gọi chớm hè?
 
Ta ngã mình trên sương cỏ ướt
Dưới giàn hoa mướp dịu dàng thơm
Sáng mai bạn sẽ mang ra chợ
Quả bí quả cà đổi gạo cơm
 
Ta ngủ vùi khi men rượu thấm
Đầu non trăng đã lặn phương nào
Những linh hồn nhỏ chung đau khổ
Nhấp nháy trên ngàn vạn chấm sao
 
Tỉnh dậy canh tàn chong lạnh buốt
Soi mình khơi bếp lửa tàn tro
Thảm thương ta chỉ vì mươi đấu
Con kiến loanh quanh miệng chén bò
 
Muốn thét to mà nghe cổ khát
Ta thèm giọt nước giếng trong veo
Ta thèm như bạn cười khinh bạc
Bình thản yên xem ngọn lá vèo
 
Tưởng tượng… cho dù trong tưởng tượng
Đã thành có bạn ở bên ta
Ta dẫu nay lời hươu tiếng vượn
Chút lòng riêng bạn hiểu riêng ta
 
(1976)
 

Trần Huiền Ân sống một đời đạm bạc, không tranh đua, không hơn thua, không thù hận. Ông sống như một bậc hiền sĩ, thản nhiên trước những biến động của cuộc sống và sóng gió của cuộc đời. Giống như mọi gia đình ở miền Nam sau năm 1975, gia đình ông cũng gặp nhiều khó khăn trong thời bao cấp.  Bài thơ “Trà say” mô tả hình ảnh gia đình ộng vào một ngày Chủ Nhật thời đó. “Vợ đội tơi đi từ sáng sớm / Để kịp chen chân ở cửa hàng”…  “Lũ con nai nịt thành hiệp sĩ / Trên giường dàn trận quyết hơn thua / Gối làm khiên thước làm đoản kiếm/ Bốn thằng: ba tướng, một ngôi vua”. Hình ảnh thật ngộ nghĩnh. Trong gian khó, mọi người trong gia đình ông vẫn vui vẻ, vẫn sống chan hòa. 

TRÀ SAY
 
Thức dậy thấy trời như rớt bão
Sân tựa vườn hoang ngập lá cành
Cây ngã cây nghiêng cây lảo đảo
Giật mình con sẻ cóng bay nhanh
 
Vợ đội tơi đi từ sáng sớm
Để kịp chen chân ở cửa hàng
Bảy ngày mới có ngày chủ nhật
Trong nhà mắm hết gạo đang khan
 
Lũ con nai nịt thành hiệp sĩ
Trên giường dàn trận quyết hơn thua
Gối làm khiên thước làm đoản kiếm
Bốn thằng: ba tướng, một ngôi vua
 
Giây phút loay hoay nhóm lửa bếp
Gió quạt lò than thoắt đã hồng
Ta ngồi đun nước ngồi suy gẫm
Lẽ tuần hoàn xuân hạ thu đông
 
Trà đã không ngon không có bạn
Ta đọc thơ xưa uống một mình
Trà đã không ngon không có thuốc
Thèm hơi khói nhỏ trắng lung linh
 
Sờ túi vẫn nguyên là túi trống
Nhưng giá còn chăng được năm hào
Không nỡ sai con đội mưa gió
Xóm nghèo quán cóc cũng xa sao!
 
Ta đành uống cạn bình trà mốc
Như uống lòng ta vào lòng ta
Trà mốc cũng làm ta chuếnh choáng
Bất giác kêu lên một tiếng khà
 
Say trà nào phải như say rượu
Để nói huyên thiên phủ đất trời
Thu tay vào bụng tìm hơi ấm
Ta lặng nhìn mưa rơi… mưa rơi…
 
(1980)

Và cuối cùng, tôi muốn đề cập đến một nét đặc biệt nữa trong thơ Trần Huiền Ân: Đó là “sự biết ơn”. Biết ơn thiên nhiên kỳ diệu, biết ơn những người đã đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời này. Bài thơ “Ông lão trồng hoa” ghi lại câu chuyện ông lão căm cụi trồng hoa để đem lại niềm vui cho các gia đình mỗi khi Tết đến. Bài thơ là một thông điệp về sự tri ân đối với thiên nhiên, đối với  những người thầm lặng đem niềm vui đến cho mọi người. 

ÔNG LÃO TRỒNG HOA
 
Cứ mạnh thu là ông lão ấy
Suốt ngày cặm cụi với vườn hoa
Biết bao khó nhọc công lao vậy
Mới có màu xuân nở mọi nhà
 
Mưa bụi tung trời ươm hạt giống
Hòa phân ủ đất để chờ hoai
Mầm lên lá bé gây nguồn sống
Cứ mỗi ngày thêm một đốt dài
 
Thời tiết hợp rồi con khá lớn
Lìa nhau ra chậu kiểng xinh xinh
Từ nay ông lão thêm bề bộn
Chăm chút thân hoa rất tận tình
 
Sớm dậy hong sương, trưa chắn bóng
Chiều lo xới gốc, tưới, gia màu
Đêm đèn leo lét mờ lay động
Vạch nách soi chồi diệt lũ sâu
 
Không thấy khi nào ông lão rảnh
Lưng còng cúi mãi lại còng thêm
Trên môi điếu thuốc buồn tro lạnh
Bát nước đầy vơi vẫn cạnh thềm
 
Khuyết mấy vầng trăng hoa chớm nụ
Lả mình đón gió nhoẻn cười duyên
Từ xa ong bướm gom về đủ
Chớp cánh vờn quanh dệt cảnh tiên
 
Hoa nở chưa tròn bao kẻ ướm
Và hoa giã biệt chị em yêu
Vườn vơi hoa cũng vơi ong bướm
Cho đến hôm nao tuyệt dáng kiều
 
Hoa khắp mọi nhà phô sắc xuân
Đời vui quên bớt nỗi gian truân
Còn đây trơ mảnh vườn khô đất
Với chiếc lưng cong ngoại lục tuần
 
Buổi sáng đầu năm pháo nổ giòn
Gật gù hít nhẹ khói thơm ngon
Khoan thai nâng tách trà, ông lão
Tiếc khóm hoa xuân đã chẳng còn!
 
 (1962)
 

Văn tức là người. Tho Trần Huiền Ân như thế nào thì con người ông như thế đó. Chơn chất. Thật thà. Ngay thẳng. Thủy chung. Ông đề cao sự chân thành, giản dị, lòng biết ơn và sự tử tế. Có những giai đoạn đời ông gặp nhiều sóng gió nhưng ông vẫn đạp sóng cỡi gió và ngẩng cao đầu bước đi. Đọc thơ ông không chỉ để thưởng thức, để chiêm nghiệm mà còn có thể học được một điều gì đó từ một trái tim nhân hậu luôn luôn dành tình cảm yêu thương cho con người và cuộc sống xung quanh chúng ta. 

PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, 1 tháng 8.2025 

11) Bài thơ “Chuyến đi dài” gồm 2 phần: phần viết về miền Nam là của Trần Huiền Ân và phân viết về miền Bắc là của Yên Hà. Phần của Trần Trần Huiền Ân (Từ câu đầu cho đến “Cầu Hiền Lương…” được soạn giả Bùi Văn Bảo (Bảo Vân) chọn in trong sách giáo khoa Việt Ngữ Tân Thư dành cho học sinh cuối cấp của bậc tiểu học.

(2) Bổ ra - Bổ: bổ dụng, tức là được tuyển dụng. Ở đây có nghĩa là lúc được “bổ” làm giáo viên.