Khi nhận lời viết bài cho tạp chí “Kẻ
Sĩ”, tôi có vài lúng túng. Tôi, người viết, phải là một kẻ sĩ? Hay, giới độc
giả đa số là những kẻ sĩ, nói khác đi, thuộc tầng lớp sĩ phu? Giống như, với
một tạp chí khoa học, người viết hay người đọc phần đông thuộc giới khoa học,
hay ít ra, cũng ham thích các bộ môn khoa học. Mặt khác, về danh từ “kẻ sĩ”,
tôi được đọc hay nghe nhiều khi còn ở trường học, hay khi đọc các sách văn, thơ,
sử ký cũ. Trong đời sống hằng ngày, hiện nay, danh từ này rất ít được dùng đến.
Và, nếu được dùng đến, để chỉ những ai, những người như thế nào trong xã hội
chúng ta, trong nước hay trong các cộng đồng ở hải ngoại? Và, tại sao, từ xưa
đến nay, không có một vị nữ lưu nào được gọi là kẻ sĩ? Chữ “kẻ sĩ” chỉ được
dùng cho đàn ông? Bài viết này khởi đi từ những lúng túng như vậy.
Hãy thử có một cái nhìn tổng quát về
vai trò của tầng lớp sĩ phu Việt Nam qua những giai đoạn quan trọng của lịch sử
từ cuối thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh đến thời hiện đại. Trong thời thịnh của
Hán Nho, tầng lớp sĩ phu hay kẻ sĩ là một tầng lớp được kính trọng trong xã
hội. Kẻ sĩ là một mẫu người lý tưởng. Trong một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn
Công Trứ, ông khẳng định vị trí hàng đầu của Kẻ Sĩ trong câu “Dân hữu tứ sĩ
vi chi tiên”, theo quan niệm xếp hạng “sĩ nông công thương”
ngày xưa. Nói chung, qua cách hiểu thông thường, đây là thành
phần có học, mê đọc sách, và hiểu đạo thánh hiền. Theo như một câu nói khá
thịnh hành ở Việt Nam của Hoàng Đình Kiên, một họa/thi gia nổi tiếng thời Bắc
Tống, “Sĩ phu ba ngày không xem sách soi gương mặt mũi đáng ghét, ăn nói nhạt
nhẽo khó ưa” (Sĩ đại phu tam nhật bất độc thư, đối kính giác diện mục khả
tăng, hướng nhân diệc ngữ ngôn vô vị).
Trong xã hội cũ, tầng lớp sĩ phu hầu
như đồng nghĩa với tầng lớp nho sĩ. Đọc sách vở về những thế kỷ sau cùng, có
cảm giác như mục đích chính của đa số trong tầng lớp này là đậu đạt và làm
quan. Dù luôn là một tầng lớp được kính trọng và ưu đãi, tầng lớp sĩ phu thường
tỏ ra bất lực trước những đổi thay của thời cuộc hay những biến động lớn trong
xã hội. Còn giới quan lại thì ngày càng trở nên tham ô và bất tài. Đọc Hoàng
Lê Nhất Thống Chí, chúng ta hình dung được khá rõ cách ứng xử nặng về chữ
nghĩa, giỏi tránh né của giới sĩ phu Bắc Hà, trong những tranh giành quyền lực
đẫm máu trong phủ chúa, trong các biến động gây ra bởi loạn kiêu binh, hay cách
họ chạy theo hay chống đối vua Lê, chúa Trịnh, hay sự tiến quân của Nguyễn Huệ
ra Bắc. Khi người Pháp đánh chiếm Việt Nam, có một số sĩ phu yêu nước đứng ra
lãnh đạo và phát động cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, như Phan Đình Phùng, Đề Thám,
v.v… Tuy nhiên, dù được đông đảo thành phần nông dân ủng hộ, họ thất bại, vì đa
số sĩ phu thụ động. Trong xã hội Việt Nam thời Hán Nho, tiếng nói và hành động
của sĩ phu thường có ảnh hưởng rất lớn. Nhưng, với đa số thụ động này, hành
động được ngưỡng mộ chỉ là sự thanh liêm khi làm quan, từ quan khi bất mãn với
thời cuộc, với thế sự, rồi về ở ẩn hay vui thú điền viên. Trong lúc đất nước lâm
nguy, nhiều người đang hoặc từng giữ những chức vụ quan trọng vẫn tiếp tục làm
thơ ca ngợi chữ “nhàn” hay ca ngợi đời sống rời xa thế tục. Chúng ta hiểu được
sự thất bại của một nền giáo dục nặng từ chương đã lỗi thời, hiểu được hoàn
cảnh của đất nước vào lúc đó, hiểu được sự thối nát của chế độ phong kiến đương
thời nhưng rất khó hiểu về tinh thần sĩ phu của một dân tộc có một lịch sử lâu
dài về văn hiến. Vì, lòng yêu nước và khả năng ứng xử của một kẻ sĩ không phụ
thuộc vào lòng yêu nước, khả năng ứng xử của một ông vua hay những ông đại thần
hèn nhát. Chỉ cần 11 tên lính Pháp với những khẩu súng trường rất thô sơ vẫn hạ
được thành Ninh Bình.
Sau khi người Pháp chiếm Đông Dương,
lớp nho sĩ tan rã dần. Xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện một thành phần mới
thay thế lớp nho sĩ cũ. Thành phần mới này tiếp thu một nền giáo dục từ các
trường học tổ chức theo chương trình Pháp. Danh từ trí thức bắt đầu xuất hiện.
Sự đóng góp của họ cho xã hội khá phức tạp, có tiêu cực có tích cực, nhưng khó
để đánh giá một cách đơn giản. Tuy nhiên, nói chung, về mặt tích cực, cách biểu
lộ tình yêu nước và những đóng góp cho xã hội, cho quê hương vượt trội hơn lớp
nho sĩ cũ. Họ có kiến thức rộng hơn, năng động hơn, thực tiễn hơn, nhìn xa hơn,
và nhiệt huyết hơn. Trong thời nho mạt này, ngoài thành phần trí thức mới, một
số nho sĩ cũ biết nhìn về một thế giới rộng lớn hơn, thấy được cái hay của
người, kể cả của kẻ thù, và cái dở của mình. Không được đào tạo như lớp trí
thức mới nhưng bằng khả năng và tầm nhìn lớn, họ tiếp thu cái hay của tinh thần
trí thức Tây phương. Họ lập nên Đông Kinh Nghĩa Thục, phát động phong trào khai
dân trí, phong trào Đông Du, v.v... Những phong trào này nhận được sự hỗ
trợ nồng nhiệt từ thế hệ trẻ hơn. Trong giai đoạn lịch sử này, người dân Việt
cũng đồng thời chứng kiến nhiều vận động từ giới trí thức về cải cách xã hội,
chính trị, văn hóa, qua báo chí và sách vở. Lòng yêu nước và khát vọng độc lập,
khát vọng tiên tiến khơi dậy mạnh mẽ. Nhiều phong trào yêu nước liên tiếp được
phát động, từ cuộc khởi nghĩa Yên Bái cho đến cuộc chiến tranh giành đôc lập về
sau. Có thành công, có thất bại, nhưng chính nhờ vào sự dấn thân tích cực của
đa số trí thức, thời cuộc thay đổi.
Trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-1954,
tầng lớp này tham dự vào hai phe khác nhau. Lúc đó, sự chống đối giữa những trí
thức không thuộc đảng phái nào chưa quyết liệt lắm. Tùy hoàn cảnh chính trị và
địa dư, họ có thể cầm súng bắn nhau ngoài mặt trận, nhưng trên những diễn đàn
trí thức, qua những ứng xử giữa con người với con người, họ không quá tàn ác
với nhau. Khi đất nước chia đôi vào 1954, họ chấp nhận chia tay trong ôn hòa để
đi về hai bên giới tuyến đối nghịch. Tuy nhiên, sau đó, mọi cách ứng xử hoàn
toàn thay đổi.
Ở miền Bắc, sau 1954, sau vụ án Nhân
Văn Giai Phẩm, sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất và những thanh trừng chính trị đẫm
máu theo mẫu Stalin và Mao, tầng lớp trí thức hầu như không còn nữa. Thành phần
nồng cốt của xã hội miền Bắc là thành phần cán bộ. Một trí thức cũ có thể trở
thành cán bộ, nhưng đã là cán bộ, nhất là cán bộ trong một chế độ như chế độ
Cộng Sản thì không còn là trí thức vì không thể duy trì được tư duy và nhân
cách độc lập. Nhiều trí thức nổi danh trong thời Pháp thuộc không tiếp tục ứng
xử độc lập như trước, để có những đóng góp cho xã hội, cho nhân loại như trước.
Bài học họ để lại cho đời chỉ còn là những kinh nghiệm về chịu đựng và khả năng
tồn tại. Nhiều khuôn mặt lớn trong Nhân Văn Giai Phẩm, chẳng hạn, cũng thế.
Ở miền Nam, sau 1954, ảnh hưởng của
tầng lớp trí thức trong lãnh vực chính trị không nhiều. Không so được với thành
phần chỉ huy quân đội và cán bộ một số đảng phái. Tuy nhiên, trong xã hội, họ
vẫn còn là một tầng lớp tương đối được kính trọng, giúp giảm thiếu phần nào sức
mạnh của các khuynh hướng độc tài và lệ thuộc. Ho giữ được khá tốt sự độc lập
của trường học, đặc biệt, tính tự trị của đại học. Họ không để chính trị ảnh
hưởng đến chương trình giảng dạy, và có nhiều đóng góp vào sự phát triển cho xã
hội trong giáo dục và văn hóa. Trong điều kiện của cuộc chiến, ảnh hưởng này
vẫn không đủ sức lấn áp để ngăn chận sự sụp đổ của miền Nam.
Kể từ 1975, xã hội Việt Nam hoàn toàn
thay đổi, sau khi thống nhất, sau cách kết thúc đẫm máu, và sau những trả thù
tàn bạo, những vượt biển thảm khốc. Một bộ phận người Việt khá đông rời quê
hương, di tản đến nhiều quốc gia khác nhau. Ngày nay, ở hải ngoại, lớp trí thức
cũ không còn bao nhiêu, lớp mới dần hội nhập vào giới trí thức Tây phương.
Trong nước, số trường trung, tiểu học, và đại học nhiều hơn. Rất nhiều, so với
trước 1975. Đào tạo về chuyên môn khá tốt. Tuy nhiên, đại học chưa được tự trị
và có xu hướng đào tạo chuyên gia hay cán bộ hơn đào tạo trí thức. Mỗi năm,
thành phần ưu tú tốt nghiệp trung học, có điểm số cao nhất, được tuyển chọn vào
khối trường công an như học viện Chính trị Công an nhân dân, Học viện An ninh
nhân dân, v.v... Điểm số dành cho các trường đại học Bách khoa, Kinh tế, Khoa
học,… thấp hơn, thấp hơn cả ngành Hàn Quốc học của Đại học Quốc gia Hà Nội.
Sinh viên theo ngành Hàn Quốc học này sau khi tốt nghiệp có thu nhập và có
tương lai tốt hơn nhiều so với những sinh viên theo các ngành Việt học. Trong
xã hội Việt Nam hiện nay, thành phần có ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của xã hội
vẫn là thành phần cán bộ. Tiếp đến là giới đại gia. Về giới trí thức hiện nay,
GS Hoàng Tụy đã nêu một nhận xét rất đáng lưu-ý:
“…Mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, ít
khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào
thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn
minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà
vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành
tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo
chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN. Chưa bao giờ trong xã hội
ta có nhiều Xuân Tóc Đỏ như bây giờ. Tôi nói có vẻ bi quan, nhưng thà nhìn khắt
khe một chút để biết người biết ta, còn hơn nhắm mắt chủ quan một cách lố bịch…” [1]
Nhìn lướt qua dòng lịch sử từ cận đại
đến hiện đại như trên, ta thấy, nếu có một tầng lớp sĩ phu trong xã hội Việt
Nam, thì đó phải là tầng lớp nho sĩ trong xã hội cũ và tầng lớp trí thức trong
xã hội mới. Đến đây, chúng ta bắt đầu có chút mâu thuẫn. Mâu thuẫn ở chỗ tinh
thần trí thức, chịu ảnh hưởng của giáo dục Tây phương, với tinh thần nho sĩ,
chịu ảnh hưởng giáo dục Khổng Mạnh của Trung Hoa. Một bên chú trọng vào tư duy
độc lập, khuyến khích tìm tòi, khuyến khích cống hiến những khám phá mới,
khuyến khích phản biện. Một bên, cố học để thấu hiểu nhưng không phản biện sách
vở, lời dạy của thánh hiền, để lập công-danh, để giúp đời, để sống đẹp, và dùng
sách vở không khác gì của nho sĩ thuộc một, hai ngàn năm trước. Dù chịu ảnh
hưởng văn hóa và chế độ giáo dục của Trung Hoa, đa số nho sĩ của ta từ thế hệ
này qua thế hệ khác rất nặng về từ chương, không thật sự có đam mê khám phá và
hiểu biết thâm sâu. Ngoài thơ, phú, không có công trình đáng kể nào về triết
học, văn học, nghệ thuật như Trung Hoa. Nếu chấp nhận lớp trí thức mới này là
sĩ phu thì khó chấp nhận lớp nho sĩ cũ là sĩ phu, dù rằng danh từ sĩ phu khởi
đi từ thời thịnh của Hán Nho.
Một vấn đề khác chúng ta gặp phải khi
theo dõi vai trò của tầng lớp trí thức, tức lớp sĩ phu mới, trong xã hội Việt
Nam từ thời Pháp thuộc đến nay. Thời Pháp thuộc, người Pháp áp đặt nền cai trị
nhằm mục đích khai thác cho quyền lợi và quyền lực của họ, đồng thời xây dựng
một chế độ giáo dục dựa trên khuôn mẫu của họ. Nhưng chính trong thời kỳ đó,
tầng lớp trí thức được hình thành và có nhiều ảnh hưởng tích cực vào nhiều lãnh
vực, làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn về văn hóa, dân trí, học thuật, v.v... Họ
tạo nên thời cuộc. Nhưng tại sao, khi đất nước chịu sự cai trị của người Pháp,
họ tạo nên thời cuộc, và khi không còn sự cai trị đó nữa, thời cuộc chế ngự họ?
Lý do, theo tôi, dù dựng nên cho Việt Nam vì nhu cầu cai trị, nền giáo dục của
Pháp vẫn là một nền giáo dục tiến bộ, nhân bản và nhằm đào tạo trí thức. Giáo
dục của Việt Nam, ở miền Bắc trước 1975 và trên toàn quốc sau 1975 không nhằm
mục đích đó. Một lý do khác, như được trình bày tiếp theo đây, liên quan đến
định nghĩa chữ Kẻ Sĩ và tinh thần kẻ sĩ.
Nhiều dân tộc có mẫu người lý tưởng
của họ, mang bản sắc của họ, và mỗi khi nói đến dân tộc đó người ta nghĩ ngay
đến mẫu người này. Chẳng hạn, “gentleman” của người Anh hay “samourai” của
người Nhật. Có phải “kẻ sĩ” là mẫu người lý tưởng, mang bản sắc của dân tộc
Việt Nam và mỗi khi nói đến người Việt Nam thì nghĩ ngay đến tinh thần kẻ sĩ?
Trong văn thơ cũ, khi đọc đến chữ “kẻ
sĩ” chúng ta dễ liên tưởng đến giới nho sĩ. Chẳng hạn, khi đọc bài Kẻ Sĩ của
Nguyễn Công Trứ như đã nêu trên. Và, liên tưởng đến giới trí thức ngày nay.
Nhưng một nho sĩ không hẳn là kẻ sĩ và một trí thức cũng không hẳn là kẻ sĩ.
Bên cạnh, nếu chúng ta chấp nhận một định nghĩa cho chữ Kẻ Sĩ dựa trên từ nửa
Hán nửa Nôm này, thì một sĩ phu cũng không hẳn là một kẻ sĩ.
Riêng chữ “trí thức”, chúng ta thường
sử dụng nó trong nghĩa rất tương đối. Đa số thuộc tầng lớp mà chúng ta gọi là
trí thức trong thời Pháp thuộc chưa tốt nghiệp đại học, nghĩa là còn ở tầm học
trò khá thấp trong ngành chuyên môn của họ. Thời đó, ai tốt nghiệp đại học
đương nhiên được xem là trí thức. Ngày nay, số tốt nghiệp đại học đông hơn
nhiều, tiêu chuẩn cao hơn. Tuy nhiên, cách gọi ai là trí thức vẫn mang giá trị
tương đối so với giá trị thực đòi hỏi ở các xã hội có truyền thống giáo dục Tây
phương cao, như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật, v.v... Tạm thời, xin chấp nhận cách
nhìn tương đối về trí thức trong bài viết này.
Trở lại chuyện sĩ phu, trí thức và kẻ
sĩ. Theo tôi, chữ “sĩ” trong “kẻ sĩ” không chỉ có nghĩa là học trò, là người có
học mà còn có nghĩa như trong chữ “sĩ khí”. Như vậy, trong xã hội ngày
nay, một kẻ sĩ là một trí thức có sĩ khí, có trách nhiệm làm tốt xã
hội, quyết liệt bảo vệ sự thật và không chịu khuất phục dưới bất cứ đe dọa, áp
lực nào mà mình tin là phản trí thức. “Kẻ Sĩ” cũng không bị giới hạn vào
giới tính, như “Sĩ Phu”. Từ quan điểm đó, nhìn lại những giai đoạn lịch sử kể
trên, cái mà xã hội chúng ta thiếu không phải là sĩ phu hay trí thức mà chính
là kẻ sĩ. Thời thuộc Pháp, Trần Đức Thảo là một trí thức lớn, sau khi về nước,
ông chịu bao áp lực, ông không tiếp tục nói, viết ra những suy nghĩ thật nữa,
không dám đóng góp cho xã hội, cho nhân loại bằng khả năng trí thức của ông.
Ông chịu khuất phục. Hiểu biết cái chính trị của xã hội Việt Nam vào lúc đó,
chúng ta thông cảm cho ông, thương tâm ông. Ông vẫn là một trí thức nhưng rõ
ràng, không là một kẻ sĩ. Ông không là Tư Mã Thiên. Ông không là Emile Zola.
Ông không là Shakarov. Ông là Phùng Quán. Xã hội chỉ thay đổi được cho tốt hơn
nếu xã hội đó có nhiều kẻ sĩ.
Kẻ Sĩ là một mẫu người lý tưởng. Một
vấn đề cần được bàn ở đây là có phải nó biểu trưng cho bản sắc của dân tộc Việt
như Gentleman của Anh hay Samourai của Nhật? Câu hỏi rất khó trả lời. Trong đời
sống hằng ngày, không phải chỉ người Anh, mà chính chúng ta, người Việt, vẫn
thường dùng chữ gentleman để nhận xét về phong cách của một người Anh nào đó.
Cách dùng chữ samourai cũng vậy. Chỉ mới đây thôi, nhiều người Việt đã dùng chữ
tinh thần samourai để nói về phong cách của một cô công chúa Nhật khi quyết
định rời bỏ hoàng cung. Nhưng, trong đời sống hằng ngày, mấy khi chúng ta dùng
chữ kẻ sĩ để nói về một người Việt nào đó? Và, ngày nay, trong đời sống hằng
ngày, trong các trao đổi giữa giới trẻ với nhau, chúng ta có thường nghe hay
thấy chữ kẻ sĩ được dùng trong câu chuyện? Với một hiểu biết, có thể nông cạn,
về một thực tế như vậy, tôi chưa dám trả lời câu hỏi trên.
Tuy nhiên, Kẻ Sĩ vẫn là một mẫu người
lý tưởng. Cho xã hội Việt Nam. Tôi thích câu trả lời của Reginald Johnston, ông
thầy người Anh của hoàng đế Phổ Nghi, trong phim The Last Emperor. Trong buổi
học đầu tiên, Phổ-Nghi hỏi Johnston: “Ông có phải là một gentleman?” Johnston
trả lời: “Thưa ngài, tôi cố gắng làm một gentleman.” Tôi không được đọc cuốn
sách của Johnston, nói về thời gian ông làm gia sư cho Phổ Nghi, nhưng sau khi
đọc hồi ký của Phổ Nghi, tôi tin Johnston quả thật là một gentleman.[2] Câu
chuyện đó có thật sự xảy ra hay chỉ có trong phim, tôi vẫn thích câu trả lời
đó. Cho dù, ông có thật sự là một gentleman hay chưa phải.
Kẻ Sĩ là một mẫu người lý tưởng. Tôi
xin mượn câu trả lời của Reginal Johnston trong phim để kết thúc bài viết này:
“Cố gắng làm một kẻ sĩ”. Nhất là, trong học thuật, trong văn học, và
trong nghệ thuật.
TRƯƠNG VŨ
Virginia, tháng 2 năm 2022.
(1] Hoàng
Tụy, “Để có lớp trí thức xứng đáng”, Tạp chí Tia Sáng, (2008).
[2] Pu Yi, Paul Kramer biên-tập, The Last Manchu: The Autobiography of Henry Pu Yi, the Last Manchu Emperor of China [Người Mãn-châu cuối cùng: Tự-truyện của Henry Phổ-Nghi, Hoàng-đế Mãn-châu cuối cùng của Trung-quốc], Kuo Ying Paul Tsai dịch (London: Weidenfeld and Nicolson, 1987).