Ông Phùng Quán có câu thơ ghi trên bia mộ: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.Có nghĩa là Phùng Quán đã té, và đã đứng dậy, vịn vào câu
thơ mà đứng dậymột cách ngon lành. Ông Kim Mao Sư Vương Trần Hoài
Thư thì có cả một tập thơ sáu tám, ông đặt cho nó cái tựa là Vịn Vào Lục Bát. NhưngKim Mao Sư Vương thì võ nghệ cùng mình nên ông chưa té,
có nghĩa là chưa cần phải đứng dậy. Chỉ mới thấy là cần chỗ để vịn
vào, ông bèn vịn vào lục bát.
Vịn để làm gì? Thưa,
hãy nghe ông nói:Tôi xin lục bát vịn vào để vui.
Thế là thế nào ? Là Trần Hoài Thư vịn vào lục bát để trần
gian này bớt buồn tẻ, lạnh lẽo đi chăng ?
Xây nhà phải có xà
ngang
Xây đời phải có lan
can vịn đời
Bây giờ hết bấu víu rồi
Tôi xin lục bát vịn vào để vui.
Té ra với
Trần Hoài Thư lục bát là một thứ giống như xà ngang, một thứ lan can để vịn
trong đời. Vịn cho vui, thế thôi. Bây giờ già rồi, chân bị gout nó hành,
ông vịn cho khỏi té.
Vậy chứ ngày trước ông có vịn vào đâu không? Có chứ ! Ngày còn bé, như mọi đứa trẻ khác trên đời, ông
vịn vào mẹ, vào cha:L an
can mẹ, mẹ khom lưng, Để con được vịn, khỏi cần nhón chân.Lớn lên thì ông vịn vào bạn:Lan can bạn - vịn thân tình, Để còn thấy được cuộc đời dễ thương.
Nhưng cái cuộc vịn gay cấn, ngoạn mục nhất là
cuộc ông vịn vào vợ:
Vịn Em
Lòng em là cả trăng rằm
Lòng tôi trăng tối như nhằm ba mươi
May nhờ tôi được dựa hơi
Nên lòng cũng nhẹ,ít nhiều hồi tâm
Bề ngoài tôi đóng vai chồng
Nhưng bên trong là con thằn
lằn nghe kinh
Lời Phật em tụng hằng đêm,
Nghe chừng như thể em cầu cho tôi
Cho tôi, bớt điếc bớt mù
Bớt sân si, bớt dâm tà tham lam...
Bây giờ em bỏ Quan Âm
Tôi lên, đứng truớc bàn thờ, đốt nhang
Kìa,
sao bàn tay tôi run
Tôi cần em, tôi cần em thật mà
Vậy mà em bỏ đi xa
Bỏ ngôi nhà, bỏ buồng thờ, đèn nhang
Em đi để nhận đoạn trường
Xe lăn định mệnh, chiếc giường nghiệp oan
Hay là em chuộc dùm chồng
Ngày xưa Chúa đã chuộc dùm thế gian ?
Thật là mối lương duyênđẹp lạ lùng, hiếm có trên đời. Có
được người vợ như ông, có được cái lòng, cái nhìn kính mến như ông nhìn vợ như
thế, thì dẫu làai,có thế nào chăng nữa,ắt hẳn cũng phải nên người, dẫu là ai,có
tội lỗi ngập trời đến đâu, thì mọi tội lỗi ấy cũng đều theo mưa trôi ra sông,
ra biển hết.Huống hồ là…Tôi bồi hồi nghĩ đến cảnh ông thắp hương trước bàn thờ
Quan Âm, bàn tay run run, lẩm nhẩm khấn:Tôi cần em, tôi cần em thật mà.
Thật chẳng biết nói gì hơn!
Xưa ông Hồ Dzếnh có hai câu thơ viết gửi vợ:
Mình vừa là chị là em,
Tấm lòng người Mẹ, trái tim người tình.
Giá mà ông Hồ Dzếnh có được đọc
bài thơ Vịn Emấy, chắc ông phải gật gù, tán thưởng: Ta chỉ
mới gọi được vợ là Mẹ, mà nhà ngươi lại coi vợ như Chúa Giê Su xuống trần gian
này chịu tội thay mình, thì quả là hơn ta mấy bực.
Xin nương theo lời thơ Hồ Dzếnh
mà thay mặt hiền thê của ông viết tặng hai câu:
Mình vừa là bạn, là anh,
Tấm lòng người Bố, ngưỡng tình người con.
Sao lại là con ? Làm chồng sao lại thành con ?
Thưacon là con
thằn lằn. Thằn lằn nghe kinh.
Con thằn lằn nào, nghe kinh ở
đâu ?
Thưa con thằn lằn uống dầu của
ông Hồ Hữu Tường. Nó ở trên chùa, nghe sư ông tụng kinh Di Lặc đã 999
lần, còn một lần nữa là đủ một ngàn, có thể giác ngộ thành Phật.
Rồi sao nữa ?
Thưa, nó bị giết lúc đang nghe
nửa chừng lần thứ một ngàn.
Thế nó có được thành Phật không
?
Thưa nó đầu thai làm nhà
văn. Rất có thể là nhà văn Trần Hoài Thư không chừng.
Thế ư ? Để làm gì ?
Thưa, xin về hỏi lại ông Hồ Hữu
Tường.
Thế khi ông Kim Mao Sư Vương Trần Hoài Thư ấy vịn vào lục bát
thìsự tình gì xẩy ra?
Thưa tuỳ lúc. Có lúc nó vang lên những lời thơ bay bổng
chín tầng trời.
Em đi, thị trấn ngậm ngùi
Có con phố cũ nhớ người đèn chong
Em đi, buồn lại dòng sông
Bên này, buồn lại nửa vầng ngọc lan
May còn một nửa vầng trăng
Dỗ tôi soi bóng dặm ngàn ly hương
Hai chữ lại trong đoạn thơ trên chắp cánh theo
nhau bay một cách ảo diệu. Em đi, buồn lại dòng sông.Bên này, buồn lại nửa vầng ngọc lan. Có đi thì ắt là có lại.
Nơi em ở thì sau khi em đi rồi,nỗi buồn nó cũng bơ vơ, nó cũng lang
thang, nólại giòng sông làm gì đó không ai biết. Ở bên này
thì ta xinđáp lạibằng một nửa vầng trăng lang thang trên trời thương
nhớ. Đáp lạiđể nỗi buồn đang bơ vơ bên giòng sôngcó ánh
trăng soi mà bớt đi phần nào niềm hiu quạnh. Bên này buồn lại nửa
vầng ngọc lan. Trăng không chỉ sáng, mà thơm mùi thương
nhớ. Đêm thơm như một giòng sữa.
Lại xin mời nghe ông kể chuyện:
Đi về biết chở gì theo
Chở theo vạt nắng bên đèo vào xe.
Ông lên đèo ông chở nắng về để làm gì vậy ông Kim Mao Sư Vương
Trần Hoài Thư ? Làm cho ông Lý Thương Ẩn đời Vãn Đường có lẽ đến nước sẽ
phải cùng với tôi tê tái, ngậm ngùi mà ngâm lại bài Đăng Lạc Du Nguyên ông
viết đã hơn nghìn năm:
Hướng vãn ý bất thích
Khu xa đăng cổ nguyên
Tịch dương vô hạn hảo
Chỉ thị cận hoàng hôn
Bài thơ ấy dịch xuôi lai ra như sau: Ngày đang tàn, lòng
ta đang ưu phiền nhiều chuyện trên đời, bèn phóng xe lên khu đồi Lạc Du ngắm
cảnh. Ta chẳng hề thấy cỏ cây, hoa lá, đềnchùa nơi khu đồi diễm lệ có từ
đời nhà Hán trước tacả nghìn năm, chỉ thiết nhìn nắng chiều trên đồi đang lung
linh đẹp quá sức mà quên hết mọi điều phiền muộn trong lòng. Nhưng chao
ôi, ánh tà dương lại đang dần sắp tắt, trời đã muốn ngả hoàng hôn mất rồi.
Ngôi giáo đường trắng đìu hiu
Hồi chuông đã đổ tiễn chiều vào đêm.
Ông Lý Thương Ẩn ngày xưa chắc đi xe ngựa, chắc là không có cửa
để ông giữ nắng trong xe mà đem về, nên ông đành ngậm ngùi tiếc rẻ: Chỉ
thị cận hoàng hôn. Ông Trần Hoài Thư nay lái xe hơi. Ông
lên đèo lùa nắng vào trong xe, đóng chặt cửa lại, rồi chở nắng đem về làm thơ,
gửi tặng bạn bè.Vui vậy thay !
Thế ngoài những lúc nó bay bổng giữa trời thơ như vậy thì những
lúc khác nó ra làm sao ?
Thưa, có lúc nó phá lung tung, khiến cho bao luật lệ bỗng bung
hết cả keo dính, sút hết cả đinh, tuột cả ốc. Bao luật thơ vốn hay gọ
ghẹ, ghèn gựa ba chuyện bằng, bốn chuyệntrắc, những sáurồi
lại những tám, bỗng rủ nhau chắp cánh bay về rặng Trường Sơn nơi
ngày xưa ông đánh giặc.
Xin mời đọc mấy câu:
Chỉ tôi, không ai tiễn đưa
Khi đời đã rụng cuối mùa thanh niên
…
Tôi đi, thì tôi đi đây
Đi đâu, đường vẫn rụng đầy lá thu
Tưởng gì, chứ đổi một chữ, đáng nhẽ là thanh trắc đổi ra bằng, thì
cũng thường thôi, có gì là ghê gớm đâu ?
Thưa bằng hay trắc thì đâu có gì là ghê gớm. Có chăng là ở chỗ nó phá
cách đúng chỗ, đúng lúc, làm cho nỗi buồn buổi biệt ly không ai tiễn đưa ấy, nó
đang chực bay lên, bỗng nó bị giữ lại, lưng chừng lờ lững, không cao lên nổi,
nghe thấy cả một trời thanh niên đang theo nhau rụng lá cuối mùa.
Thế có chỗ nào khác mà nó cũng sương sương như thế nữa không ?
Thưa có chứ, Còn đây cònđêm tịch liêu,nó cũng trầm
mình xuống, nghe không gian lắng đọng, u hoài, như trong đoạn:
Còn đây tấc dạ thước mền
Giường dưng, gối lạ, ngọn đèn vàng hiu
Còn đây, còn đêm tịch liêu
Trong tôi con sóng thủy triều trở trăn...
Mà cũng chưa bao giờ nghe ai đem tấc dạ mà đối
với thước mền, đem gối lạ mà đối với
giường dưng. Người dưng khác họ là một chuyện, mà giường
dưng gối lạ lại là một chuyện khác hẳn, nghe màđêm bỗng
dưng tủi buồn, lạnh lẽo, hết trăn lại trở, thuỷ triều trở trăn.
Còn chỗ phá luật lục bát này thì sao, lục bát gì mà chín
chữ? Đọc lên nghe ngang phè phè:
Bề ngoài tôi đóng vai chồng
Nhưng bên trong là con thằn
lằn nghe kinh
Thưa nó hay mà vẫn ngang phè phè như thế ấy. Thơ lục bát
đúng luật ở trên đời này có không biết là hằng hà sa số bao nhiêu bài. Mà
hầu hết những bài thơ ấy trước sau gì cũng nằm vùi trong lãng quên, không ai
nhắc đến chúng nữa.
Thơ đúng luật lại bị lãng quên mà thơ sai luật lại hay là sao?
Thưa hay là tại vì có con thằn lằn nghe kinh.
Con thằn lằn ấy đã uống trộm bao nhiêu là đĩa dầu trên bàn thờ Phật, nên câu
thơ bốc ra lửa. Đọc thơ thật không nên lẩn quẩn trong luật thơ, mà làm
thơ cũng không nên loay hoay cố gắng làm mới thơ bằng cách đổi hình, thay kiểu
này nọ. Ba cái gọi là lục bát tân hình thức này kia chỉ là cái tiểu
phụ. Có cũng tốt, mà không cũng hay.
Thế là thế nào ? Thế làm thơ cứ nên phá luật lung tung vô tội vạ ư
? Thưa không. Chẳng nên
thế, mà cũng chẳng nên không thế. Thơ nó vốn tự do. Không nên bắt
nó phá luật, mà cũng không nên bắt nó đi theo luật. Cứ để cho nó là nó,
tự nhiên là nó, ắt là nó sẽ tự nó mà biết khi nào thì theo luật,khi nào thì
phá, khi nào thì cổ điển, khi nào thì tân hình thức. Người đọc thơ nếu có
thấy nó lạ tai thì xin nhẩn nha đọc lại, đọc đến lần thứ 999 thì sẽ vỡ ý.
Đọc một câu thơ mà đến những 999 lần thì một đời người đọc được
mấy câu ? Thưa làm thơ không nên làm
nhiều, mà đọc thơ cũng không nên đọc nhiều.
Bao nhiêu là nhiều, mà bao nhiêu là không nhiều, bao nhiêu là
không ít ? Thưa cứ tự nhiên, bao nhiêu mà nó
đến với mình thì bằng ấy là vừa đủ, không nên cưỡng ép.
Thế người xưa làm thơ có phá luật không ? Thưa có chứ. Chẳng hạn như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt
lúc nãy, ngay câu đầu ông Lý Thương Ẩn đã tương ra một dọc năm thanh trắc liên
tiếp: Hướng vãn ý bất thích, nghe ra nỗi bực dọc, khó chịu trong
lòng. Câu kế tiếp là câu đưa đường cho câu thứ baTịch dương vô hạn hảo,
là câu bày tỏ niềm hân hoan, hạnh phúc trước cảnh đẹp của buổi chiều tà.
Để rồi kết luận bằng câu thứ tư: Chỉ thị cận hoàng hôn, là
nỗi ngậm ngùi trước sự vô thường, mong manh, ngắn ngủi của mọi việc trên đời.
Mỗi câu thơ tự nó chẳng có gì là ghê gớm, nhưng chúng đã nương cánh nhau
bay bổng ra ngoài luật thơ, làm thành bài thơ tuyệt diệu.
Thế ông Lý Thương Ẩn khi làm bài thơ ấy tính toán thế nào mà có
thể bầy ra một cuộc bằng trắc ngược đờinhư thế ? Thưa không. Ông ấy vẫn nói là cái bực
mình, cái hân hoan sung sướng,chúng tự bầy ra cuộc bằng
trắc của chúng, ông ấy đâu có tính toán gì đâu.
Xin mời đọc thêm mấy câu tuyệt hay của Kim Mao Sư Vương Trần Hoài
Thư, nhưng đọc xonglà sẽ ấmức cả mình:
Ngỡ rằng nước chảy qua cầu
Màu biệt ly cũng chỉ màu từ ly
Trời xui gặp gỡ làm chi
Trong hân hoan có chút gì đau thương
Ông bỏ lửng nửa chừng. Ngỡ là thế này
thế nọ, ngỡ là nước chảy qua cầu, ngỡ là màu biệt ly cũng chỉ là màu ly biệt,
ngỡ là gặp gỡ cũng chẳng làm gì, ngỡ là trong hân hoan cũng có chút gì đau
thương. Ngỡ là thế này thế nọ, ai dè… Ai dè làm sao thì ông không nói,
ông lờ tịt đi, ông chấm dứt bài thơ ở đấy. Làm hồn dạngười đọc đâm ra
hoang mang, tê tái, ngậm ngùi nhìn nước chảy qua cầu, không biết là hân hoan
hay đau thương, đành phải đi theo ông lên đèo chở mấy vạt nắng về mà hòng nguôi
ngoai.
Cách đây mươi hôm ông từ nhà dưỡng lão ra,
sau khi đem cơm chiều vào nuôi người bạn đời, ông gọi cho tôi, đọc cho tôi nghe
một tràng mươi bài lục bát. Có cả cảnh ông nằm ôm ma ngủ, chung giường chung
chiếu trên nghĩa địa. Gặp ma người
ta sợ, hoặc là đứngchết điếng, hoặc là co giò lên cổ, bỏ chạy đến mấtcả hồn,
lạc cả vía. Riêng ông thì hết vịn vào ma, lại ôm nó vào
người. Lại còn:
Ai thì có tiền mua tiên, riêng ông tiền lính tính liền mua
ma. Rồi ông cười sang sảng.
Ông Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn có món võ công
độc nhất vô nhị thiên hạ võ lâm, là công phu sư tử hống. Ông chỉ cần hú
lên một tiếng là địch thủ thất kinh hồn vía, lơ tơ mơ là hộc máu ra mà
chết. Còn ông Kim Mao Sư Vương Trần Hoài Thư cũng có một môn võ công độc
đáo không kém. Ông có tiếng cười cũng có một không hai trên đời.
Tiếng cười ấy có năng lực xoá tan hết mọi điều bất hạnh ở trần gian. Địch
thủ của ông là những kẻ may mắn.
Anh Trần Hoài Thư ơi, từ xưa đến giờ, chưa thấy ai so thơ sánh
với xà ngang. Từ nay về sau, mỗi lần nhìn lên trần nhà,ắt là tôi sẽ nhớ
đến thơ lục bát, nhớ đến anh, lại nghe thấy tiếng anh cười. Thế là bao
nỗi bất xứng ý, bao chuyện trên đời làm mình cáu sườn bỗng vỡ tung, tan biến đi
hết.
Xin được kết ở đây bằng mấy câu thơ tuyệt vời khác:
Nước lên, trời thổ mật vàng
Nửa lan mây núi
Nửa
tràn bãi sông
Trời thổ mật
vàng ? Mật của trời ? Nghe chua xót tựtâm can, tỳ vị trào lên cay đắng.
Nước lên kéo mặt trời gần
Khanh vàng lai láng
một giòng vàng khanh
Lại nghe như đang thổ lộ cả tấm lòng nhớ thương, tha thiết, cả
một giòng vàng khanh lai láng.
Vàng
Khanh. Vàng Khanh. Nửa Nôm nửa Hán. Nghe sao âu yếm lời quân
vương đang gọi giai nhân sủng ái. Vàng Khanh, Vàng Khanh ơi. Lòng
ta cùng với con nước thuỷ triều đang rướn mình dâng cao, ôm lấy khanh mà chan
hoà trong sắc vàng long lanh, óng ánh.
Tô Thẩm Huy, Tiết Tiểu Thử, Đinh Dậu, 2017